SGTT.VN - Mái tóc dài như suối, gương mặt, vóc người thuần chất Á Đông, giọng hát thì trong veo, cao vút... NSƯT Quế Trân từ lâu đã là ngọc nữ trong làng cải lương miền Nam.
Cô còn là ái nữ trong một dòng họ nổi tiếng năm đời theo nghề hát: đoàn Vĩnh Xuân – Minh Tơ. Bằng những lời lẽ từ tốn, chừng mực, cô kể về quá trình giữ lửa nghề hát của dòng họ mình.
Quế Trân giữa song thân.Ảnh: nhân vật cung cấp.
Bốn đời dưới một mái đình
Cha tôi kể lại, năm 1924 ông cố tôi là nghệ sĩ Hai Thắng gom góp tiền bạc trong gia đình, quyết định mua lại gánh hát bội của bà Ba Ngoạn, lập đoàn Vĩnh Xuân. Gánh hát của ông bầu Thắng chính là trụ cột của sân khấu cải lương tuồng cổ về sau. Năm 1948, cha tôi, Thanh Tòng ra đời. Ba tuổi, ông đã được ông nội dạy hát, sáu tuổi học hát bội, tám tuổi tập ca tân nhạc, vũ đạo. Đầu năm 1950, ông nội tôi là nghệ sĩ Minh Tơ cùng các anh chị em ruột của ông là Đức Phú, Khánh Hồng, Bảy Sự bắt đầu học hát cải lương của đoàn Phụng Hảo.
Đến thời của cha thì cả gia đình hoàn toàn hát cải lương tuồng Tàu. Năm 1975, bộ môn tuồng cổ cải lương Minh Tơ ra đời. Hai mươi bốn tuổi, cha tôi đã vừa viết, dựng, diễn cho nhiều vở. Năm 1989, cha cũng là người đầu tiên đưa cải lương vào video. Đó là những mốc quan trọng trong cuộc đời của cha cũng như của các thành viên trong gia đình Minh Tơ.Dù có đi đâu, làm gì, ở cung bậc nào của cuộc sống, cha cũng dạy anh em tôi sống phải luôn nhớ đến gốc gác của mình.
Nghề hát thời của ông cố, ông nội thường trôi nổi khắp nơi biểu diễn. Nhưng vì không muốn con cháu tiếp tục sống đời gạo chợ nước sông, năm 1924 ông cố tôi đã đưa cả nhà về sinh sống tại đình Cầu Quan (khu vực Cầu Muối Sài Gòn) nhằm ổn định nơi ăn ở, học hành. Cha tôi chào đời dưới mái đình đó. Xuất thân từ hát bội gắn liền với các tích tuồng cổ nên cha và các cô chú được đọc nhiều sách thánh hiền. Cùng sống dưới một mái đình, trong một không gian chật hẹp nhưng mọi thành viên trong đại gia đình Minh Tơ luôn để trong đầu mình một câu tâm niệm, sống phải biết sẵn sàng hy sinh cho nhau.
Thế hệ nối tiếp thế hệ cùng bước vào nghề, nắm giữ ngọn lửa truyền thống của gia đình và có trách nhiệm với nhau. Ông cố Hai Thắng truyền nghề lại cho ông nội Minh Tơ. Rồi ông nội lập nhóm đồng ấu Minh Tơ, dạy cho cha Thanh Tòng, cô Xuân Yến. Cha dạy lại cho chú Bạch Long, rồi chú tiếp tục truyền nghề cho tôi. Thế hệ chúng tôi hay những học trò ngoài dòng họ đều gọi cha Thanh Tòng, chú Bạch Long hay cô Xuân Yến bằng cha, chú, cô, chứ không ai gọi là thầy.
Đó là danh xưng thân mật, là sợi dây liên kết rất thiêng liêng mà đời cha ông muốn con cháu nối kết.Cũng có một khoảng lặng, đoàn hát bị dư luận định kiến cho rằng mất gốc vì loại hình cải lương tuồng cổ, thậm chí còn bị cấm hát. “Con thuyền” của dòng họ có nguy cơ bị mất lái, cha tôi cùng các cô, chú tìm mọi cách vực dậy đoàn hát, đỏ mắt tìm chỗ đứng cho đoàn. Cha ông làm nghệ thuật nhưng chưa bao giờ ràng buộc con cháu phải theo nghề. Mỗi ngày nhìn mọi người tập luyện, mỗi đêm được nghe hát, lời ca tiếng nhạc thấm vào máu thịt, cái đam mê đó tự nhiên ngấm vào cơ thể mình lúc nào không hay.
Sống cho có nghĩa có tình
Mãi đến sau khi cưới vợ, cha tôi mới tách ra riêng cùng gia đình nhỏ của mình, nhưng những tôn ti, đạo lý của một gia đình Á Đông vẫn được cha giữ gìn cho anh em tôi. Trong nghề, cha là một người nghiêm khắc, trong giáo dục con cái ông rất nghiêm túc. Tám tuổi, tôi mê ánh đèn sân khấu, mê hát ca. Cha để tôi thoả mãn đam mê của mình nhưng ông vẫn luôn nhắc nhở tôi phải học hành, hát chỉ dành cho những ngày hè hoặc lễ hội.
Nghề hát lâu nay bị coi thường ít học, cha không muốn anh em tôi trưởng thành với cái đầu ít chữ. Cha dạy tôi hát, còn mẹ tận tuỵ với chiếc xe đạp đưa tôi đến trường, rồi đến sân khấu mỗi khi có dịp được hát. Mẹ cũng là người lo trang phục biểu diễn cho hai cha con. Mẹ là người “ngoại đạo”, nhưng bà luôn bên cạnh, là vị khán giả âm thầm của cha con tôi suốt những năm tháng qua.Động lực từ mẹ, sự mong mỏi của cha giúp anh em tôi hoàn thành con đường học vấn của mình.
Cha tôi đã già nhưng vẫn phải lưu diễn khắp các tỉnh, rồi thức thâu đêm dựng kịch bản, tài chính gia đình phần lớn phụ thuộc vào những chuyến lưu diễn của cha. Tôi bèn khóc, xin cha cho mình tiếp tục lên sân khấu, giúp ông lo gánh nặng gia đình. Mười tám tuổi, tôi nhận huy chương vàng giải Trần Hữu Trang. Cha khóc vì tôi đã có thể giữ gìn nghề của dòng họ, nhưng cha lúc nào cũng căn dặn tôi sống ở đời phải hết sức khiêm nhường, còn nếu tự phụ, tự mãn sẽ tự diệt chính mình. Cha kiệm lời khen với con cái, ông dành từ “khen” đó trong việc trau rèn cho tôi cái thần của nhân vật mỗi khi lên sân khấu.
Gia đình tôi dù bận rộn đến đâu cũng cố gắng bên nhau trong bữa cơm chiều. Khoảnh khắc đó, chúng tôi chia sẻ suy nghĩ cùng nhau, về những vấn đề gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Ở những vấn đề đó, cha thường giải thích, cho chúng tôi những lời khuyên sống sao để không thẹn với lòng mình.
NGUYÊN CAO (GHI)
NSND Thanh Tòng: “Trên mười năm hát cùng con gái”Lúc Quế Trân chưa chào đời, tôi viết vở Má hồng soi kiếm bạc. Đó là một vở tâm huyết. Và điều tôi hạnh phúc nhất là có lúc hai cha con tôi cùng được hát chung vở này. Đó là một sự thiêng liêng trong nghề. Cải lương cũng có lúc thăng, lúc trầm và dường như chịu thiệt thòi hơn các lĩnh vực nghệ thuật khác.
Nhưng tôi luôn khuyên con nếu theo nghề rồi thì nên sống hết mình với nghề. Sự hết mình đó thể hiện ở tâm huyết, tập luyện và đúng nội lực. Có như vậy thì nghề sẽ không phụ mình. Nhờ biết giữ lửa mà đến nay tôi mới tự hào dòng họ Vĩnh Xuân – Minh Tơ đã chính thức được năm đời theo nghề hát.