Trong giới nghệ sĩ cải lương, khá nhiều nghệ sĩ có làn hơi - giọng "đồng" và mỗi người có sở trường riêng trong xử lý làn hơi, chất giọng của mình. Ở phái nữ, có thể nói nghệ sĩ Phượng Liên là đại biểu cá biệt về xử lý hơi - giọng với những thanh điệu ( dấu) một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo những âm sắc ca ngâm mềm mại, trữ tình, dìu dặt...
NS PHƯỢNG LIÊN - KỸ THUẬT PHONG PHÚ
Có lẽ NS Phượng Liên được thiên phú cho làn hơi chất giọng "Đồng" rặt, chị là người sáng tạo cách buông hơi và ngân giọng lạ, có một nét riêng chinh phục lòng nguời mộ điệu. Dường như kỹ thuật ngân nga, luyến láy của NS Phượng Liên đơn giản hơn NSND Út Trà Ôn và NSUT Phương Quang; nói khác đi, là chị ít xử lý kỹ thuật , chất giọng chân phương mà tự bộc lộ âm sắc riêng. Bởi lẽ, hơi - giọng nữ có mấy đặc điễm khác với nam hơn: âm lực mạnh và cao hơn vì giọng nữ ít âm trầm, ngược lại âm vang nhiều hơn (hoạ âm); âm giọng khi ca nghe vừa rổn rảng vừa âm vang; khi xử lý kỹ thuật rung, ngân, luyến láy âm điệu nghe càng dìu dặt, trữ tình hơn nam. Nói khác đi, giọng "Đồng" nữ âm sắc mềm mại, âm vang, uyển chuyển hơn nam. Nói chung giọng "Đồng của nữ" thì trữ tình hơn nam, nhưng lại không hùng hồn bằng nam.
Với những thính giả cao niên hoặc có dịp nghe lại băng dĩa giọng ca của NS Phượng Liên trước năm 1975 như Bích Tuyền trong "Đêm lạnh chùa hoang"; Mộng Cầm trong "Chuyện tình Hàn Mạc Tử"; Liễu trong "Lấy chồng xứ lạ"... ; những bài Vọng cổ như "Tâm sự Mộng Cầm" của Viễn Châu, Tân cổ giao duyên "Con gái của mẹ" của Quế Chi...Sau năm 1975, NS Phượng Liên vai Kiều Nguyệt Nga trong "Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga" của Ngọc Cung, Sáu Nghĩa trong "Người ven đô" của Minh Khoa, và bài vọng cổ để đời của chị là "Hoa mua trắng" của Ngự Bình. Nổi bật nhất của kỹ thuật xử lý hơi - giọng của NS Phượng Liên là ngân dấu "nặng", ngân "thanh ngang" (không dấu) và độc đáo là buông hơi, luyến nhả dấu "huyền".
Cách lấy hơi của chị cũng như nhiều người khác, sử dụng hơi bụng hay hơi miệng thì nín mũi lại phát âm, còn sử dụng hơi mũi thì nín cổ họng tức làm tắt thanh quản, chận luồng hơi từ phổi lên rồi phát âm; nhưng chị xử lý bằng cách điều tiết âm lực và âm lượng hài hoà nên âm sắc không quá rổn rảng, cũng không có âm trầm xuất hiện đồng thời; do vậy, mà tiếng ca trong trẻo, âm vang nghe truyền cảm, ngọt ngào; mà nhiều người gọi nôm na là giọng mềm mại, trữ tình, ngân nga kéo dài hơi một chút thì nghe như âm sắc ấy dặt dìu trong gió thoảng...
Với những ca từ mang thanh điệu dấu nặng, khi trọng âm hay nhịp chính phải rơi ngay đó, thì NS Phượng Liên khép đôi môi, ngậm miệng lại xử lý kỹ thuật hơi mũi để ca; giống như một số người ca ém hơi nhưng không phải, mà đó là dùng hơi mũi vì kỹ thuật hơi mũi hoá (nasal) sẽ nén sự bật hơi ở các âm nổ. Trong câu 1 vô Vọng cổ bài "Tâm sự Mộng Cầm" NS Phượng Liên nhấn trọng âm ở hai âm tiết mang dấu nặng và huyền theo kỹ thuật này, "Ai mua trăng mà người đem trăng đi bán, người địng bán bao nhiêu một ánh trăng... vàng; người ở trần gian hay ở tận chốn cung hằng..."; thoạt nghe âm lực như nặng lắm, nhưng khi chị nhấn trọng âm có kèm theo sự luyến nhẹ độ cao hơi đi lên làm âm mang dấu nặng mà không nặng rất hay, khiến người nghe hồi hộp tưởng chừng như chị bị hụt hơi trước khi xuống "Hò"; sự hồi hộp đó khi chị xuống "Hò" ngọt và mát tai làm cho người ta thật thoả mãn thính giác vô cùng!
Đối với những ca từ mang dấu huyền, thông thường người ca phát âm trầm, dùng kỹ thuật phát âm hơi tròn môi, buông hơi, nhả chữ bình thường các ca từ có dấu huyền. Còn với NS Phượng Liên thì có khác, chị phát âm ca từ có dấu huyến rất độc đáo; mà âm tiết mang dấu huyền ấy không phải rơi vào "Hò hay Xề" Vọng cổ, mà nó nằm trong câu ca, cũng không phải là nhịp chính; chị xử lý kỹ thuật ở vị trí cổ họng mà hơi bằng cách thót bụng lại ngân bằng hơi mũi; âm sắc nghe tròn trịa và có chút cuốn lên tựa hồ như âm trầm có độ vang rất khoái nhĩ. Trong bài Vọng cổ "Tâm sự Mộng Cầm" ở câu 2 "Nàng hỏi ta điên hay tỉnh, còn nàng tỉnh hay điên mà mua ánh trăng vàng...ttăng trong thơ của Hàn Mặc tử dù khuyết hay tròn dù đục hay trong..." Nét khu biệt khi chị phát âm những âm tiết có dấu huyền này, phía sau âm còn cái đuôi (âm hưởng) "ờ..." làm cho giọng ca thêm dìu dặt.
Sau năm 1975, NS Phượng Liên đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng thính giả mộ điệu qua bài Vọng cổ "Hoa mua trắng" của tác giả Ngự Bình; kỹ thuật xử lý hơi - giọng của chị càng rõ nét, tinh tế hơn như đã định vị một phong cách ca ngâm riêng của mình. Lúc này, NS Phượng Liên không chỉ nhấn luyến dấu nặng và huyền, mà chị lại còn luyến dấu "hỏi" và ngân chữ không "dấu". Về luyến giọng ơ dấu sắc, dấu hỏi thì chị không ngân giọng mà cất cao lên rồi nhấn; chữ không dấu (thanh ngang) chỉ khi nào chữ đó đứng trước chữ xuống "Hò" thì chị mới ngân giọng; và khi ngân chị không rung giọng như một số nghệ sĩ khác, nên âm sắc không bị hoạ âm ù, rè; mà rất tròn đầy thẩm âm, chỉ nghe hơi gió rồi xuống "Hò" ngọt lịm.
"Chị bỗng nhìn tôi cái nhìn thông cảm. Rồi tay vuốt nhẹ vào tay tôi như nói hãy yên...lòng (Hò). Chị nói với tôi ở đây không có hoa lan,hoa huệ, hoa hồng..."... (Câu 1, Vọng cổ Hoa mua trắng).
Nếu tình từ khi nghệt thuật cải lương ra đời, cụ thể là từ bài Vọng cổ thì giọng Đồng của NS Phượng Liên là một nét riêng về kỹ thuật ca ngâm, được xem như một trong những giọng ca mượt mà sâu lắng, người nghe một lần sẽ khó quên. Chính vì sự khó quên đó mà NS Phượng Liên đã để lại một ảnh hưởng không nhỏ với các cô đào ở thế hệ sau, như cố NS Kiều Hoa, NS Thanh Hằng, Kiều Hạnh...
Cố NS Kiều Hoa cũng từng hát đào chánh, chị nổi tiếng chỉ sau NS Phượng Liên và chị ảnh hưởng lớn về kỹ thuật hơi - giọng của NS Phượng Liên. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó không chi phối toàn bộ về phong cách ca ngâm của chị, nhưng rất tir6c1 là chị không có bài ca cổ nào để đời, cho dù chị đã ca Vọng cổ trên đài khá nhiều từ sau Giải phóng (1975).
NS Kiều Hoa thiên phú cho làn hơi khá tốt, chất giọng "Đồng" nhưng không rặt lắm; bởi vì trong xử lý kỹ thuật có lúc âm giọng pha một chút "Thổ", nên giọng chị rất dễ nhận ra sự khác nhau với giọng NS Phượng Liên là ở chỗ đó. Kiều Hoa cũng thường ca những bài quen thuộc mà NS Phượng Liên thường ca như: Tâm sự Mộng Cầm, Hoa mua trắng, Lá trầu xanh... Hầu như kỹ thuật xử lý hơi - giọng của Kiều Hoa luôn không nằm ngoài kỹ thuật của Phượng Liên, nét riêng của Kiều Hoa là do hơi "Đồng" pha chút "Thổ" nên nhiều trầm hơn bổng, vì lẽ đó chị không thể ca chồng hơi hoặc ca cấn như NS Phượng Liên có thừa khả năng này. Ngược lại, "Thổ" lại có đặc điểm riêng là âm giọng trầm lắng, tuy không "bốc" nhưng bù lại đượm buồn và mùi mẫn hơn. Nét riêng để chinh phục khách mộ điệu của NS Kiều Hoa là vậy, ở vẻ buồn và mùi của âm giọng trầm lắng.
NS Thanh Hằng có giọng ca dễ thu hút đồi tượng của mình, làn hơi chất giọng nằm trong nhóm "Đồng" như là Đồng pha Kim, cái độ vang rổn rảng của Thanh Hằng lại trong trẻo và thanh thoát hơn do một chút âm Kim pha vào khi ca. Thanh Hằng có kỹ thuật xử lý hơi - giọng khá riêng, nhường như ít chịu sự ảnh hưởng kỹ thuật thanh đới của hai nghệ sĩ đi trước mình. Nét chấm phá của chị có thể thấy cách xử lý thanh điệu (dấu của chữ), chị không đi theo Phượng Liên và Kiều Hoa, có nghĩa là kỹ thuật xử lý hơi - giọng chân phương, không cầu kỳ; do vậy, mà âm giọng của chị lúc nào cũng có độ vang dài hơn một cách tự nhiên, những ca từ mang dấu "huyền" và thanh ngang, Thanh Hằng chỉ luyến nhẹ hoặc lướt qua, chị nhấn giọng âm lực ở những nhịp chính là chủ yếu. Tuy nhiên, chị cũng như NS Kiều Hoa là đã ca trên đài nhiều bài Vọng cổ, nhưng không có bài để đời như NS Phượng Liên.
NS Kiều Hạnh là cô đào của thế hệ trẻ nhất, cô vừa chớm có tên thì Cải lương suy yếu, ở lĩnh vựa ca lẽ cô cũng chưa khắc hoạ được ấn tượng gì. Kiều Hạnh có nhiều ảnh hưởng về kỹ thuật hơi giọng của Kiều Hoa, nhưng giọng "Đồng" của cô rặt hơn, giống Phượng Liên hơn là Kiều Hoa; do vậy, Kiều Hạnh khó định hình phong cách ca ngâm riêng, cô chỉ "photo" một nửa của Kiều Hoa, một ít của Phượng Liên... Nếu với chất giọng, làn hơi trời cho của Kiều Hạnh mà được đầu tư rèn luyện, tự tư duy sáng tạo nét riêng cho mình thì có thể kế thừa thật sự các nghệ sĩ đàn chị.
Làn hơi, chât giọng của mỗi người là do cha mẹ tạo nên, gọi theo nghề là thiên phú, mà cơ sở sinh học gọi là bộ máy phát âm, ít ai giống ai. Trong nghệ thuật ca ngâm, ngoài "thiên phú" còn do bãn thân cá nhân tôi luyện, sáng tạo để có nét riêng cho mình. Học hòi cái hay của người khác cũng là điều tốt, nhưng phải biết sáng tạo từ cái có sẵn thành cái mới hơn thì mới là nét riêng có ý nghĩa kế thừa.
(Theo ĐỖ DŨNG - BSKTP) |